Tu trong bận rộn

Ngày đăng bài Thứ Hai, ngày 14-04-2014

Lời nói đầu

Hôm nay, ngày rằm tháng Mười, tất cả Phật tử nhân nhớ đến những ngày rằm lớn đi lên chùa, lễ Phật và để nghe quý Thầy nhắc nhở sự tu hành. Đó là điều rất tốt, giúp cho hàng Phật tử chúng ta luôn luôn tịnh tấn trên đường đạo. Nếu chúng ta quy y rồi, phát tâm theo Phật, mà không đến chùa, không nghe pháp, thì thật là một thiếu sót lớn.

Nên hôm nay quý vị đến lễ Phật, chúng tôi cũng đem điều Phật tổ đã dạy nhắc lại cho quý vị nhớ để tu tập. Làm sao trên đường tu chúng tôi cũng như quý Phật tử mỗi ngày mỗi tiến, mỗi vươn lên chứ không thể chỉ tu cho có tên mà không có thực chất.

Vì vậy hôm nay tôi sẽ giảng cho quý vị nghe đề tài TU TRONG BẬN RỘN. Chắc quý vị chịu lắm phải không?

Tôi biết hoàn cảnh của chúng ta hiện giờ, đất nước nghèo, Phật tử phải lo vật lộn với cuộc sống, chật vật lắm, nên có khi cả ngày không có thời gian rảnh để ngồi cụng kinh, niệm Phật. Rồi chẳng lẽ không có giờ rảnh tụng kinh, niệm Phật thì mình không tu được sao? Vậy nên bây giờ làm sao trong khi lăng xăng lộn xộn, mà mình vẫn tu được là điều thiết yêu cho cả hàng Phật tử tại gia và luôn người xuất gia.

Nói tu trong bận rộn, tôi chia có hai hạng người. Một, hạng người gọi là bình thường, tức hàng Phật tử bình thường, làm thế nào tu trong bận rộn cho được. Hai là hạng người xuất cách, tức vượt hơn mức bình thường. Xuất cách đây là có một thái độ đặc biệt, nghĩa là ở trong hoàn cảnh nào người đó cũng vẫn làm được những điều mà thế thường không làm được, gọi đó là hàng xuất cách.

1.- Tu trong bận rộn của những người bình thường

Trước tiên tôi nói cách tu cho hạng người bình thường, làm sao trong hoàn cảnh bận rộn mà vẫn tu tập được. Gần đây có một số Phật tử than phiền rằng “tôi làm ăn buôn bán cả ngày ngoài chợ, có rảnh giờ phút nào đâu mà tu”. Như vậy rủ họ tu là chuyện không phù hợp thực tế, phải không? Nói không thiết thực vì cả ngày phải ở ngoài chợ, phải làm ngoài đồng hoặc đi biển …, quá nhiều công tác không bao giờ rảnh mà bảo tu làm sao tu cho được! Còn một số người, như vừa rồi có Phật tử nói “vì tôi nghèo quá, không có tiền, không có của làm sao mà tu được”. Rồi có một số người khác nữa lại than rằng “tôi bệnh hoạn liên miên tu sao được”. Đó là hạng người thứ nhất.

Trong ba hoàn cảnh – người thì than thở bận rộn làm ăn mua bán, tu không được, người thì than nghèo thiếu tu không được, người thì than bệnh hoạn tu không được – như vậy tu được hay không tu được? Đó là điều tôi muốn nói cho quý vị nghe hôm nay.

Giờ tôi đặt câu hỏi lại: Quý vị nghĩ "Thế nào là tu". Tu là làm gì mà nói bận rộn không tu được? Tu là làm gì mà nói nghèo tu không được?

Tại lâu nay người ta cứ nghĩ bụng tụng kinh, đi chùa, ăn chay, làm công quả cho chùa hoặc cúng chùa … là tu. Nếu không làm được vậy thì không thể tu. Còn người nào đi chùa thường xuyên, người nào ăn chay nhiều, người nào cúng chùa nhiều, người nào làm phước nhiều, đó là tu nhiều. Hiểu như vậy là không thực tế. Theo thông thường tu có nghĩa là sửa, sửa cái gì? Sửa ba nghiệp của mình là Thân, Ý, Miệng.

Ngày xưa chưa biết tu có khi thân làm lành, có khi làm dữ. Bây giờ mình biết tu rồi, điềm lành thì làm điều dữ thì tránh, đó là tu. Như vậy có tốn tiền không? có bận rộn không tu được không?

Thí dụ, quý Phật tử đang đi trên đường nhìn thấy bầy kiến bò dưới đất. Nếu không biết tu thì chân mình dẫm đạp lên bầy kiến mà không xót xa, không muốn tránh. Giờ biết tu rồi, thấy bầy kiến đang bò mình không nỡ đạp nó nên tránh qua một bên, đó cũng là tu rồi.

Như vậy, tu thân là làm những hành động không gây khổ cho chúng sinh, mà luôn đem những điều lợi ích, tốt đẹp cho mình cho người và mọi loài.

Vậy, khi tránh không bắn con chim, tránh không đạp bầy kiến… có tốn công nhiều không? Có người nào làm không được không? Đâu có gì khó, ai cũng làm được hết. Dù mình bận rộn, khi đi đường thấy kiến thì tránh là tu rồi. Hoặc thấy con vật vừa muốn chọi thì dừng liền, không giết hại chúng, đó là tu rồi. Hồi xưa không biết tu giận ai là muốn tát tai liền. Bây giờ biết tu rồi, giận thì giận chứ tay không dám tát, không đánh người. Chỉ không sát sanh, hại vật, không đánh người…, dễ tu quá. Tu thân như vậy dù bận mấy cũng tu được, ai cũng tu được.

Tu nghiệp thân thì tránh không tạo ác mà luôn làm nghiệp lành. Như thấy một bà xách cái giỏ nặng đi ngang, mình khỏe hơn nên nói “để con xách giùm bà”, rồi xăng xái xách giùm, đi một đỗi tới nhà bà, đưa bà vô nhà rồi đi về. Vậy cũng đâu có gì khó phải không? Hoặc đang đi thấy một đứa bé té, mình đỡ nó dậy, phụ phủi bụi giùm, vuốt ve an ủi nó, cũng là tu.

Như vậy những hành động đó đều là thân làm nghiệp thiện. Mà thân bỏ những nghiệp ác làm nghiệp thiện là tu, cho nên nói tu là sửa. Hồi xưa mình chưa biết nên thấy cái gì thích thì dù làm việc ác. Thấy con cào cào, châu chấu muốn chụp bắt để ngắt cành, bẻ chân chơi, nhưng trò chơi đó có lợi cho ai không? – Không có lợi gì mà còn làm cho đau khổ chúng sinh. Khi mình ngắt cánh nó, nó sợ run cả người. Đó là một trò chơi ác độc mà hồi trước mình không biết nên làm vậy, bây giờ biết rồi, phải chừa bỏ, là tu rồi. Tu là sửa những hành động xấu xa, độc ác đổi thành hành động lương thiện, tốt đẹp chứ đâu bắt mình phải làm cái gì khác. Vậy quý vị thấy bận rộn tu được không?

Bây giờ tới lời nói. Hồi xưa chưa biết tu, khi vui thì mình nói lời hiền hòa, dễ thương, khi giận thì nói cộc lốc, quạu đeo, khiến người ta dễ ghét. Khi giận lên, lựa toàn những lời nói móc họng móc hầu người ta. Nói cho người ta tức, nổi quạu lên là chưa biết tu. Bởi chưa biết tu nên mình nói lời chưa có hiền, chưa lương thiện. Bây giờ quý Phật tử biết tu rồi thì đổi, tức là sửa, sửa những lời nói ác ngày xưa thành lời hiền hòa, lương thiện, êm ái, dễ nghe. Nên có giận ai cũng ráng bỏ qua, khi thốt thành lời thì nói lời hiền lành, đừng dùng những lời hung dữ, đó là tu. Điều đó quý vị thấy cần tu không? Nếu ở nhà có hai vợ chồng, ai giận cũng nói cho đã miệng, thì dễ đánh lộn lắm. Vì ai cũng muốn nói cho hơn, nói cho cao, nên không ai nhịn ai, mà không nhịn thì gây gổ rồi đi đánh lộn. Còn bây giờ nếu có gì buồn, có gì bực bội mình cũng lựa lời nói hòa nhã, êm ái, rồi từ từ giải quyết với nhau, chứ không nói lời dữ, lời chọc tức thì làm gì có đánh lộn.

Như vậy quý vị thấy tu có cần thiết không? Nếu không tu thì trong gia đình cứ gây lộn hoài. Biết tu rồi không còn gây lộn nữa, không gây thì gia đình thuận thảo, trên dưới được êm ấm.

Nói đến ý nghiệp. Khi chưa biết tu, ý mình hay nghĩ xấu người này, nghĩ bậy người kia. Nghĩ những chuyện tào lao, không trúng đâu vào đâu mà cứ nghĩ, làm cho người này buồn, người kia tức. Bây giờ biết tu rồi, không dám nghĩ bậy, nghĩ xấu ai, mà luôn luôn nghĩ điều hay điều tốt điều phải, đó là tu.

Như vậy quý vị thấy tu nơi thân, nơi miệng, nơi ý nghĩ, cái tu đó có tốn công nhiều không?

Thí dụ người đó bận buôn bán ngoài chợ, món hàng mình bán lẽ ra chỉ một ngàn đồng, khách hàng hỏi giá mình nói một ngàn hai, ước chừng người khách trả một ngàn thì bán là vừa. Nhưng giả sử người khách trả có ba trăm đồng, tức không? Lúc đó nếu không biết tu thì la ỏm tỏi một hồi. Nhờ biết tu rồi, tuy họ trả rẻ có ba trăm đồng, nhưng món hàng của mình còn đó, họ đâu có quyền lấy, có mất đi đâu mà sợ, thôi cũng ôn hòa trả lời “chị trả chưa tới giá, bán chưa được”, rồi cười với họ, họ đi vui vẻ. Có tốt không? Quý vị thấy đâu có tốn công mất của gì, như vậy cả ngày buôn bán ngoài chợ có tu được không? Ở ngoài chợ càng tu nhiều nữa chứ. Những chuyện người ta nói trái tai, làm gai mắt, hồi trước gặp cảnh đó, mình thấy bực bối la lối, nói này nói nọ, nặng nhẹ người ta. Bây giờ nói lời hiền hòa, không la, không giận, đó là tu rồi.

Người xưa đã nói “nhất tu thị, nhị tu sơn”. Thứ nhất là tu ở chợ, thứ hai mới tu ở trên núi, tại sao vậy? Giữa chợ bao nhiêu người, bao nhiêu cái trái tai gai mắt, mà mình vẫn hiền hòa, nhẫn nhịn được, đó là tu nhiều. Còn lên trên núi ngồi một mình ở đó, ai chọc cho giận mà tu nhẫn! Cả ngày thấy như mình hiền, nhưng chưa chắc hiền thật đâu. Ngồi giữa chợ mà hiền được, vậy mới tu hay. Như vậy thì quý vị cả ngày bận rộn công ăn việc làm, tu được gì không?

Bây giờ mình vừa có ý nghĩ xấu, ý nghĩ bậy bạ về ai thì bỏ liền, là tu rồi. Vậy tu không phải đợi đến chùa, đợi đến giờ tụng kinh, niệm Phật mới tu, mà luôn tu từ hành động, lời nói, ý nghĩ. Ý nghĩ xấu liền bỏ, chỉ nghĩ điều tốt. Lời xấu ác không nói, mở miệng chỉ nói lời hay. Hành động xấu liền bỏ, chỉ làm việc lành. Đó là tu. Vậy quý vị nghĩ có ai không tu được không?

Nếu người bận rộn thì tu cả ngày ngoài chợ càng tốt. Còn người đi cuốc, đi cày cũng tu được như vậy. Hoặc người phải làm công kia việc nọ ở sở cũng tu được vậy. Hoặc người phải làm công kia việc nọ ở sở cũng tu được vậy. Những khi rảnh rỗi thì ngồi xem từng tâm niệm, lời nói, hành động giữ cho tốt lành. Tu như vậy vừa cẩn thận, vừa chín chắn.

Còn tu mà đợi đến giờ tụng kinh, niệm Phật mới tu thì sao? Mấy bà lão bây giờ có cái bệnh tu kỹ lắm, lúc nào cũng có xâu chuỗi dài, ngồi lần chuỗi lia lịa. Nhưng các cháu làm điều gì trái ý thì tức giận, bỏ xâu chuỗi xuống la om sòm một hồi rồi mới giật mình nhớ lại. Thấy bà tu mà sao hay la mắng vậy nên mấy đứa cháu tức quá, nói bà “tu hú”, thế là bà càng nổi giận thêm. Tu là phải làm sao lời nói hiền hòa, hành động tốt đẹp, ý niệm trong sáng. Chứ đâu phải chỉ tu hình thức còn lời nói, hành động lại không tu.

Cho nên người Phật tử chân chính phải biết tu là sửa ba nghiệp. Ba nghiệp sửa trong sạch rồi mới có thể tiến đến chỗ tốt đẹp, vui vẻ được. Nên trong Kinh có câu “tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây Phương”, ba nghiệp trong sạch thì đồng Phật về cõi Phật, còn ba nghiệp bất thiện – thân làm dữ, miệng nói ác, ý nghĩ xấu – thì về Cực lạc được không?

Bây giờ có nhiều người cứ nghĩ mình niệm Phật mười câu thì Phật rước về Cực lạc, Nghĩa là niệm Phật ít cây thì Phật rước về bên đó, khỏi phải lo sửa đổi chi cho cực. Nói như vậy đúng không? Bởi quan niệm đó cho nên nhiều Phật tử còn trẻ nói “Thôi để già tu! Bây giờ trẻ còn thời giờ để vui đã, đến lúc già rồi chừng đó niệm Phật một hơi, Phật rước chứ gì!”. Quý vị thấy quan niệm vậy đúng hay sai?

Cõi Tây Phương gọi là cõi Cực Lạc, cực là tột, lạc là vui. Vui tột, vui không có chút khổ nào gọi là cõi Cực Lạc. Bây giờ muốn về cõi vui mà mình là người hay sân si, lỡ Phật rước về bên đó, chắc Phật cũng rầu lắm, cũng phải tìm cách đưa mình trở lại. Nếu như để mình ở bên đó, chắc Phật cũng rầu lắm, cũng phải tìm cách đưa mình trở lại. Nếu như để mình ở bên đó, cảnh Cực Lạc biến thành cảnh ta bà khổ mất rồi. Còn sân si là còn khổ. Giả sử ở cõi này quý vị ưa gây lộn, chắc gì về Cực Lạc quý vị không gây! Cho nên muốn được về Cực Lạc thì phải bỏ sạch hết mọi thói xấu, mọi phiền não, mới có hy vọng.

Tôi thí dụ, có một gia đình rất giàu, ở căn nhà lầu tới năm, sáu tầng. Trong nhà có nuôi con chó đang bị xà mâu, ghẻ ngứa cùng mình, nó cào, gãi cả ngày. Chủ nhà thấy thương, nghĩ chắc tại mình nuôi con chó ở tầng trệt, dưới đất, nên nó bị ghẻ ngứa, thôi giờ đem tuốt lên lầu sáu, để trên cao chắc là nó hết gãi. Nhưng khi đem lên trên lầu sáu thì nó hết ngứa không? – Chắc không hết. Tại sao không hết? – Vì bệnh xà mâu, ghẻ ngứa trong người nó chưa chữa trị. Chưa trị lành bệnh cho dù để tầng mười lăm, mười bảy nó vẫn gãi như thường. Vậy đổi chỗ không có nghĩa là hết bệnh. Muốn hết bệnh, dù nuôi nó ở dưới tầng trệt mà biết bôi đúng thuốc, trị hết bệnh thì hết ngứa. Chừng đó để đâu nó cũng không ngứa.

Cũng như vậy, muốn về Cực Lạc được vui, mà ở ngay cõi ta bà này mình còn sân si quá chừng thì làm sao về bên đó hưởng vui được. Những niệm ác, niệm xấu chưa bỏ mà muốn về cảnh vui, về bên đó cũng mang cái xấu, cái ác theo. Mang theo thì gặp điều trái ý cũng cãi lộn nữa, cãi lộn thì mất công Phật đưa trả về bên đây. Mà xa quá chắc không đủ tiền máy bay đưa qua đưa lại đâu. Cho nên muốn về bên kia, tất cả quý Phật tử nên sửa ba nghiệp của mình cho thanh tịnh.

Tu ba nghiệp thân miệng ý như vậy, quý vị thấy trong lúc bận rộn tu được không? Bận rộn càng tu nhiều hơn, đâu thể nói tu không được?

Kế đó là nghèo  tu được không? - Mình tránh không đánh đập loài vật, không nói lời ác, cũng đừng nghĩ xấu, có tốn đồng xu nào! Không tốn tiền mà vẫn tu được. Vậy lấy lý do nghèo tu không được là chưa hợp lý. 

Bây giờ bệnh tu được không? Phần nhiều, nhất là quý vị lớn tuổi, khi bệnh thân nhọc nhằn, buồn rầu, dễ giận hờn. Nằm trên giường, khát nước kêu mang nước mà con cháu đi đâu vắng, không ai đem đến, có giận không? - Giận, phải không? Tới bữa cơm mà trễ một chút, giận không? - Giận chứ sao không! Cứ ngồi giận đứa này, buồn đứa kia, trông đứa nọ là khổ. Bây giờ bệnh mình cứ nhất tâm niệm Phật, không  thèm nghĩ gì hết, ai cho cơm thì ăn, không cho thì về với Phật sớm đỡ khổ.

Khi bệnh, mình nằm đó miệng không dám nói dữ, ý không nghĩ xấu, thân không làm ác là tu. Nằm đó thì thân không làm ác rồi, chỉ còn cái ý với cái miện. Ý thì không nên giận hờn con cháu, cứ nghĩ "con cháu nó thương mình, nhưng chúng bận quá nên không lo chu đáo được". Hoặc nghĩ "thôi kệ, chúng nó cho cơm nước cũng được", rồi mình cứ ngồi đó hay nằm đó nhiếp tâm niệm Phật, hoặc nhiếp tâm quán tưởng "cái thân này nó hư dối, bại hoại, nay còn mai mất, không có gì quan trọng". Còn miệng cũng đừng trách móc, chửi bới ai. Nhiếp tâm niệm Phật hay quán vậy là tu rồi. Vậy bệnh cũng tu được, không có lý do gì để nói bệnh tu không được.

Hiểu rõ rồi mới thấy ở hoàn cảnh nào tu cũng được. Nhưng lâu nay các Phật tử có sự hiểu lầm, nghĩ rằng tu là phải căn chay cho nhiều, phải tụng kinh cho giỏi. Cho nên năm ngoái ăn chay một tháng sáu ngày, năm nay ăn tháng mười ngày, huynh đệ khen chị tu hay quá. Thêm được bốn ngày chay cho là tu hay. Nhưng không ngờ thêm bốn ngày chay mà về đến nhà luôn rầy lộn, đánh lộn thì có tu hay không? Có Phật tử năm ngoái niệm mỗi ngày sáu chuỗi, năm nay mỗi ngày niệm mười chuỗi, huynh đệ hỏi thăm, nói năm nay mỗi ngày tôi niệm mười chuỗi , được khen tu hay quá. Nhưng niệm chuỗi  nhiều mà tâm mình chua hiền, có hay không? Cũng chưa phải là hay.

Tu hay là phải sửa ngay nơi tâm, lời nói, hành động của mình. Quý vị thấy người biết tu sửa thân miệng ý, có phải là người hiền, người tốt không? Thân không làm ác, miệng không nói dữ, ý không nghĩ xấu thì đó là người rất tốt. Nếu người đó ở trong gia đình thì gia đình ít có sự rầy rà, lục đục. Trong gia đình nào mọi người đều tu được như vậy thì gia đình đó hạnh phúc biết bao. Ở ngoài xã hội, ai cũng tu ba nghiệp như vậy thì xã hội đẹp biết mấy. Cho nên một ngày tu là một ngày an lạc, một ngày tu là một ngày hạnh phúc.

Có nhiều người cứ nghĩ đi chùa mới tu, tụng kinh nhiều mới tu, nên bỏ công ăn việc làm chạy vô chùa gõ mõ tụng kinh hoài, mặc cho chồng con ở nhà rằn ri, rầy rà. Bì rầy rà thì phiền não, rồi than rằng tôi phát tâm tu mà chồng con làm khó, không giúp cho tôi tu. Chẳng những nói chồng con làm khó mà có khi lại nói tôi mới phát tâm tu mà bị quỷ phá, nó không cho tôi tu. Như vậy mình tu mà thấy người thân mình là quỷ hết trơn! Thấy vậy là niệm ác chứ đâu phải thiện.

Tôi hỏi quý Phật tử, như nhà mình có năm người, hai vợ chồng ba đứa con, trong năm người, hai vợ chồng ba đứa con, trong năm người có một người ở tù vì tội nào đó, thì gia đình có vui không? Đâu có vui, có một người ở trong nhà bị tù tội thì mình buồn lắm! Khi mình đi chùa, bỏ công ăn việc làm, bị chồng con trách cứ thì mình đổ thừa họ là quỷ này quỷ kia, rồi họ nổi tức lên, làm hung làm dữ. Trong nhà năm người chỉ có một người biết tu, lại kiến cho bốn người kia bực bội, tạo nghiệp ác. Như vậ một người tu mà ba bốn người tạo tội thì phải đọa. Vậy nếu mình được lên thiên đường mà chồng con xuống địa ngục, mình có vui không? Chắc không vui rồi.

Do đó phải tu làm sao mà điều hòa mọi người trng nhà, được hòa nhã, ấm êm, đừng để kẻ thì tạo phước, người thì tạo tội là không tốt. Làm sao cho mọi người đều được vui vẻ để cùng hướng thiện tiến lên. Đó là cái khéo, cái khôn ngoan của người biết tu. Tu như vậy người ta mới thấy đạo Phật hữu ích. Biết đạo mà gia đình được sung sướng, hòa nhã, êm ấm, trên thuận dưới hòa thì đó là cái hay của đạo Phật.

Còn nếu mình tu mà gia đình lủng củng, trong nhà bất an, ở ngoài người ta nhìn vào họ chê cười, nói người đó theo đạo Phật rồi thì gia đình tan vỡ, khổ sở. Tu như vậy là tu sai lầm, làm cho người ta đánh giá thấp, chê cười đạo Phật. Vì vậy các Phật tử phái hiểu đúng đắn về việc tu của mình.

2.- Tu trong bận rộn của những người xuất cách

Đó là tôi nói tu trong bận rộn của hạng người bình thường. Bây giờ tôi nói tu trong bận rộn của những người xuất cách.

Xuất cách tức là vượt bậc. Thế nào là tu với tư cách của con người xuất cách? Nghĩa là con người xuất cách này không tu theo lối thông thường. Không phải tu từ lời nói, từ hành động, từ ý nghĩa nữa,mà tu bằng cách nhận ra nơi mình có cái cao siêu, chân thật không còn bị vô thường, sinh diệt chi phối. Nhận được cái đó, rồi an ổn tiến tu, đó là lối tu của người xuất cách.

Như Tổ Lâm Tế, ngài có nói "Tất cả mọi người đều có sáu đường thần quang không bao giờ bị ngăn cách", sáu đường thần quang tức là sáu đường soi sáng nhiệm mầu, chữ thần là mầu nhiệm. Ý muốn chỉ nơi mỗi người đều có cái sáng suốt, mà cái sáng suốt đó phát xuất từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chúng ta. Sáu cái đó gọi là sáu đường thần quang.

Cũng vậy, trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật nói "nhất tinh minh sanh lục hòa hợp", tức là từ một cái trong sáng phát ra sáu thứ hòa hợp. Tôi thí dụ trong chùa này có một ngọn đèn neon ở giữa, xung quanh có sáu cửa sổ. Ban đêm bật đèn sáng, mở sáu cửa sổ ra thì ở bên ngoài người ta thấy cái gì? Thấy ánh sáng soi ra sáu cửa. Ánh sáng phát ra từ sáu cửa đó là dụ cho sáu đường thần quang, ngọn đèn là dụ cho nhất tinh minh, tức là một tâm trong sáng.

Nơi chúng ta; ai cũng có cái thể trong sáng đónhưng quên không nhận. Bởi quên nên chúng ta cứ nhận thân tứ đại hòa hợp, vô thường, hư dối làm thân mình, nhận cái suy nghĩ cho là tâm mình, mà suy nghĩ là cái bóng dáng của sáu trần. Như vậy, một cái là tướng sinh diệt, một thứ chỉ là cái bóng, mà mình chấp đó là thân, là tâm của chính mình. Bởi vậy nên chịu luân hồi sinh tử. 

Giờ đây muốn hết luân hồi sinh tử thì ngay nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không bị nhiễm nhơ, thì mới trở về cái thể một tinh minh. Bây giờ tôi chỉ cho quý vị thấy ở mắt, tai, mũi, lưỡi ... của quý vị, có cái thường hằng sáng suốt. Như ở mắt mình là cái thấy, ở lỗi tai mình là cái nghe ...

Bây giờ tôi chỉ cái thường hằng ở mắt. Như khi tôi đưa tay lên, tôi hỏi: thấy không? - Thấy. Khi tôi rút tay lại, quý vị có thấy không? Bây giờ tôi đang nói, quý vị có nghe không? - Nghe. Tôi im lặng, quý vị có nghe không? Chỉ một hai người học Kinh Lăng Nghiêm rồi thì hiểu được chỗ này, còn chưa học thì trăm người như một, đưa tay lên gọi là thấy, rút tay lại gọi là không thấy. Có tiếng thì nghe, không tiếng nói không nghe.

Vậy quý vị có lầm không? Lầm thế nào? Cái tay tôi đưa lên và rút lại, đó là cái tay có trong khoảng không này và không có trong khoảng không này, còn cái thấy của quý vị có lúc nào không không? Khi tôi đưa lên thì quý vị thấy có cái tay, khi tôi rút tay lại thì quý vị thấy chỗ đó không tay, tại sao nói không thấy? Đó là cái lầm lớn mà mọi người đang bị mắc kẹt. 

Rồi khi tôi nói thì có tiếng, quý vị nghe có tiếng nói, khi tôi không nói thì quý vị nghe không có tiếng nói của tôi, chứ các tiếng khác quý vị vẫn nghe. Tại sao nói không nghe! Đâu phải điếc! Như vậy khi có tiếng thì nghe tiếng, khi không tiếng thì lúc đó nghe không có tiếng, tại sao lại nói không nghe?

Quý vị bị lệ thuộc vào sắc trần ở bên ngoài, sắc trần có cho là có thấy, sắc trần không là không thấy, thanh trần có là có nghe, thanh trần không nói là không nghe. Như vậy là quên mình theo vật. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật nói "Nếu người nào hay chuyển được vật thì đồng với chư Phật, còn ngược lại ai bị vật chuyển thì phải đi luân hồi" .

Bị vật chuyển là gì? - Tức là có tay thì cho là có thấy, không tay thì không thấy; có tiếng thì gọi là có nghe, không tiếng thì không nghe, đó là bị vật chuyển. Còn khi có tay, không tay đều biết mình có cái thấy, có tiếng không tiếng đều biết mình có nghe, đó là mình chuyển được vật, mà chuyển được vật thì đồng với chư Phật.

Bởi vậy các vị Thiền sư khi ngộ được lý đó rồi, mới thấy ngay nơi mình có cái chân thật, hiện tiền nơi sáu căn. Nếu từ tâm chật thật phát ra thì sáu căn này gọi là sáu đường thần quang, từ tâm diên đảo vọng tưởng phát ra thì sáu căn này gọi là lục tặc - sáu tên cướp. Như vậy sáu căn này gọi là sáu đường thần quang, tức lục thần thông, cũng sáu căn này gọi là sáu đứa cướp.

Nó thành thần thông hay lục tặc, đều ở mình, tại mình. Quý vị thấy một cái hoa đẹp, cứ nhìn nó rồi thôi, đừng khởi niệm thích nó thì có gì phiền đâu.  Nhưng nếu thấy cái hoa đẹp, thí dụ như thấy hoa hường, thích quá đưa tay ngắt, thì sao? Bị gai nó đâm. Vừa thấy vật khởi niệm thích, thích tồi làm theo thì phải khổ. Còn thấy nó thì cứ thấy thôi, có gì khổ đâu. Thấy liền khởi tâm thích, khởi tâm tham, đó là lục tặc, là bị đứa giặc dẫn đi trong đường khổ rồi đó.

Đó là theo cảnh còn theo tiếng thì sao? Thí dụ quý vị đang ngồi trong nhà, có người đi tới cổng nhà, kêu tên chửi, lúc đó quý vị ngồi yên trong nhà hay nghe nghe chửi, liền đứng dậy, chạy ra hằn học chửi lộn, rồi ẩu đả với họ. Vừa nghe tiếng trái tai, khởi tâm sân hận, thì liền có cái dẫn mình tới chỗ khổ.

Nghe chửi mà mình thấy như tiếng nói sàm của mấy người điên họ nói bậy thì cò khổ không? Họ điên, họ nói sàm, thì mắc mớ gì mình chạy ra ăn thua. Mình nghe cũng như nghe thì đâu có động. Nghe vẫn biết đó là tiếng chửi mà không khởi niệm giận buồn gì hết thì đâu có hại gì mình. Như vậy nghe mà không bị phiền não thì không bị giặc cướp.

Nếu nghe mà không dấy phiền não thì đó là thần thông của lỗ tai, thấy mà không bực bội đó là thần thông của con mắt. CÒn nghe mà nổi giận, thấy mà sanh tham thì đó là lục tặc, là sáu đứa giặc. Vì sáu đứa giặc đó nó cướp giật hết của cải của mình, làm cho mình nghèo khổ năm này tháng nọ, đời này đời khác cứ khổ hoài.

Quý vị thấy đời mình đang hạnh phúc hay đang buồn khổ? Chắc ít có người dám nói tôi đang hạnh phúc. Bởi thấy đời mình khổ quá, có ai dám vỗ ngực nói tôi đang hạnh phúc. Nhưng tại sao khổ quý vị biết không? Tại vì sáu đứa giặc nó dẫn mình chạy ra ngoài hoài, mất hết tiền nên khổ. Bây giờ quý vị đừng thèm lệ thuộc sáu đứa giặc nữa thì có lục thần thông, sung sướng tự tại.

Nói ý nghĩa đại khái con người xuất cách tu như vậy đó. Tu không còn nói chuyện làm phước, hay làm ác nữa. Mà nhận ra ngay nơi mình có sáu đường thần thông sáng suốt, không bị sáu đứa giặc quyến rũ làm điều tội lỗi, luôn sống với sáu đường thần quang, thì gọi là tu của người xuất cách.

Tu như vậy thảnh thơi không? Khi quý vị giận phiền hay trách người, lúc đó sung sướng hay khổ đau? - Khổ. Khổ từ đâu đem lại, trời khiến hay Phật ban! Chính kình là chủ tạo cái khổ đó. 

Bây giờ quý vị bỏ hết những phiền não thì có sung sướng không? Sung sướng liền. Mà sung sướng từ đâu lại? Cũng không ai ban cho mình, mà chính mình khôn ngoan buông bỏ những thứ làm cho mình buồn khổ, buông hết thì sung sướng. Vậy nến sống với sáu đường thần quang này thì được thành thơi, giải thoát. Nếu không sống với nó mà sống với lục tặc thì quý vị sẽ buồn khổ.

Từ nãy giờ nói phần lý thuyết, đến đây tôi kể chuyện thực tế về các ông vua, quan đời Trần ngày xưa ở Việt Nam. Quý vị nghĩ một ông vua hay ông quan có bận rộn hơn quý vị không? Làm vua lo đủ thứ chuyện chắc không thảnh thơi đâu! Vậy mà những ông vua, ông quan đời Trần vẫn tu được.

Đây là câu chuyện của ngài Tuệ Trugn Thược Sĩ khi được vua Trần Thánh Tông mời vào nội cung thọ trai. Hôm đó cũng có các vị thiền sư. Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ là cư sĩ có gia đình, tuy sống đời sống thế tục, nhưng hiểu đạo nên ứng dụng tu kết quả rất tốt. Bởi vậy vua Trần Thánh Tông mời ông vào nội cung cùng dự tiệc chay với một số các vị Hòa thương, các vị Thiền sư. Vua Trần Thánh Tông  là ông vua hiểu đạo khéo tu, nên khi vô dự lễ tiệc, trước tiên vua đưa giấy viết, yêu cầu mỗi người đề một bài thơ trình kiến giải của mình cho nhà vua coi thử ai tu hay, ai được ưu. Các vị Thiền sư, kể cả các vị Hòa thượng có mặt đều viết kệ trình nhưng nhà vua không hài lòng. Sau cùng đến ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua đưa giấy, ngài cầm viết, viết một hơi bài kệ chữ Hán như thế này:

Kiến giải trình kiến giải
Tợ niết mục tác quái
Niết mục tác quái liễu
Minh minh thường tự tại

Dịch nghĩa:
Kiến giải trình kiến giải
Tơ dụi mắt thấy quái
Dụi mắt thấy quái rồi
Rỡ ràng thường tự tại

Vua Trần Thánh Tông rất bằng lòng bài kệ đó. Quý vị thấy bài kệ hay chỗ nào mà nhà vua bằng lòng? Vua yêu cầu phải trình  kiến giải, tức là đem cái hiểu biết trình ra cho vua thấy. Kiến là thấy, giải là hiểu, tức là đem cái thấy hiểu của mình trình ra. Quý vị nghĩ cái thấy hiểu của mình là thật hay không thật? Chắc quý vị nghĩ cái kiến giải là cái thật của mình. Nhưng vơi con mắt nhà Thiền không thấy nó thật.

Bây giờ tôii hỏi quý vị, khí chúng ta mới tám, chín tuổi trong thời gian còn nhỏ đó quý vị đã có kiến giải gì chưa? Chắc không có. Cái kiến giải có sau khi lơn lên học hỏi. Nhờ học tập, đọc sách ..., rồi huân vào thành những hiểu biết của mình, những hiểu biết đó sau thành ra kiến giải. vậy kiến giải đó từ mình có hay từ ngoài mà có? Do từ ngoài có cho nên nó không thật của mình. Cái hiểu biết, cái kiến giải không thật là của mình mà chấp là của mình. Do chấp cái giả làm cái thật mà quên mấtcái chân thật hằng hữu.

Cho nên ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ mới nói kiến giải trình kiến giải, tức là đem cái kiến giải mà trình cái kiến giải. Hai cái đó đều khôgn thật, giống như dụi mắt thì thấy hoa đóm lăng xăng giữa hư không. Bữa nào trong trong hoặc trưa nắng, con mắt ngứa, dụi một hồi bỏ tay xuống, nhìn hấy hoa đóm lăng xăng, lăng xăng ở bên ngoài. Cái hoa đóm lăng xăng ở ngoài đó có thật hay không? Khi dụi, mắt bị chóa bị mờ nên thấy hoa đóm. Hoa đốm là không thật, do dụi mắt mà thấy, nên gọi là  dụi mắt thấy quái. Kiến giải của chúng ta cũng giống như vậy, nó không thật.

Nhưng hai câu sau nói  dụi mắt thấy quái rồi, rỡ ràng thường tự tại. Khi chúng ta dụi mắt thấy có hoa đóm, rồi một lúc con mắt trờ lại bình thường. Khi bình thường lại con mắt không còn chóa mờ nữa, thì lúc đó hoa đốm liền hết. Cũng vậy, khi mọi kiến giải nó lặng sạch rồi, lúc đó cái chân thật hiện tiền, chính là  dụi mắt thấy quái rồi, rỡ ràng thường tự tại. Tới đó là chỗ nó rõ ràng, khôgn còn mờ mịt, không còn cái quái lạ như trước nữa. Vua Trần Thánh Tông khi đọc tối bài đó rồi, liền đề ở sau rằng:

Minh minh thường tự tại
Diệc niết mục tác quái
Kiến quái bất kiến quái
Kỳ quái bất tự hoại

Dịch nghĩa

Rỡ ràng thường tự tại
Cũng dụi mắt thấy quái
Thấy quái chẳng thấy quái
Quái ấy ắt tự hoại

Trước khi dụi con mắt, lúc đó có thấy hoa đốm không? Trước đó nó rỡ ràng thường tự tại, rồi khi mình dụi mắt nó mới thấy quái. Thấy quái mà không thấy quái, tức là thấy hoa đốm lăng xăng, biết rõ không thật do mắt mình chóa mờ mà thấy, thì lúc đó hoa đốm gạt mình được không? Bởi vậy hai câu kế nói  thấy quái chẳng thấy quái, quái ấy ắt tự hoại, tức hoa đốm tự mất chứ gì. cũng như thế, nếu chúng ta có những kiến giải, biết nó không thật, không lầm kiến giải là thật mình thì kiến giải đó dần dần hết. Kiến giải dần hết thì mình trở lại như xưa -  một cái rỡ ràng tự tại.

Ngài Tuệ Trung và vua Trần Thánh Tông coi nhau như huynh đệ, vua Trần Thánh Tông cùng họ Trần với Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng là em rể của ngài. Chúng ta thấy hai huynh đệ trình hai bài kệ rất hay. Ở ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ thì trình kiến giải là không thật, nếu mình hết được các kiến giải không thật đó thì cái sáng suốt tự sẳn có hiện tiền. Ngược lại vua Trần Thánh Tông nói cái sáng suốt tự hiện tiền mà vì mình chấp vào cái kiến giải mới thành cái kiến giải. Nếu có kiến giải rồi, biết rõ cái kiến giải đó không thật thì dần dần kiến giải sẽ hết, trở lại cái thường tự tại của mình như trước.

Quý vị thấy ông vua, ông quan mà trình độ hiểu biết, tu hành của họ rất đáng nể, đáng kính. Đó là tôi dẫn sơ qua một đoạn đối đáp của hai vị. Nếu hai vị chỉ biết có chừng ấy thì mình thấy đó chỉ là hiểu biết thôi, chưa phải là cái chân thật. Nhưng khi vua Trần Thánh Tông đau nặng, Tuệ Trung Thượng Sĩ gởi thư đến thăm hỏi. Nhận được thư, vua Trần Thánh Tông liền ghi hai câu thơ chữ Hán để trả lời như thế này: 

Viêm viêm thử khí hãn thông thân

Vị tằng uyển ngã nương sanh khố

Tôi dịch:

Hừng hực hơi nóng toát mồ hôi

Chiếc khố mẹ sanh chưa từng ướt.

Vua nói cái thân của ngài lúc đau nặng sắp chết, chẳng khác nào ngồi trong cái nhà lửa, nó nóng hừng hực hừng hực, mồ hôi toát ra. Vậy lúc đó cái khổ tràn ngập giống như mồ hôi tuôn khắp người, nhưng mồ hôi chảy mà không ướt cái khố mẹ sanh. Cái khố mẹ sanh là cái khố gì? Cái khố mẹ sanh ở đây chỉ cái có sẵn nơi mình từ thuở nào, có khi đặt tên là Bản lai diện mục, có khi là Pháp thân, Phật tánh...

Tên tuy khác nhưng thực chất là chỉ cái sẵn có từa thuở nào của chính mình. Tuy cái thân này lúc sắp chết nó đau đớn rã rời không thể tưởng tượng nổi, nhưng còn cái nguyên vẹn, không bao giờ hư hao, không bao giờ bị xoay chuyển đó là cái chân thật của mình.

Sắp chết mà nói được hai câu này thì ngài là người có tự do tự chủ không? Như vậy cái hiểu của ngài không phải hiểu suông, mà là cái hiểu đã hành được, chứng được và sống được.

Bây giờ quý vị thử nhớ lại, chúng ta đọc sử vua Trần Thánh Tông. Thời này là thời được an bình, thịnh trị hay có những thống khổ khó khăn? Chính thời của ngài phải đối đầu với quan Nguyên, một đội quân bách chiến bách thắng, không những đối đối với các nước Á Đông mà cả Tây Phương, quân Nguyên tới đâu là rạp tới đó. Quân Nguyên kéo qua đánh Việt Nam, vua Trần Thánh Tông phải lo đương đầu chống giặc, cái lo cái bận rộn của vua nhiều hay ít? Bận rộn việc trong nước, bận rộn việc ngoại xâm - phải làm sao vừa lo cho dân chúng được ấm no, vừa chống giặc ngoại xâm, thì hỏi trong lòng ngài ận rộn nhiều hay ít, bận rộn bằng chúng ta chăng? Chắc là bận rộn hơn không biết bao nhiêu, mà ngài vẫn tu được. Còn bây giờ quý Phật tử bận rộn bao nhiêu, cao lắm bằng một phần tư, phần tám của vua. Vậy mà than tôi bận rộn tu không được là rất vô lý. Đó là chuyện của vua Trần Thánh Tông.

Bây giờ tới chuyện của Tuệ Trung Thượng Sĩ, khi ngài còn làm quan trong triều nhà Trần, ngài đã biết tu, rồi sau đó ngài mới từ quan, về ở làng Vạn Niên. Khi ở đó ngài ứng dụng thiền tu tại gia, với cuộc sống gia đình vẫn còn thê thiếp. Tài liệu về Tuệ Trung Thượng Sĩ nhiều lắm, chúng tôi không nói hết được.

Đây tôi chỉ đề cập lúc ngài sắp tịch. Khi ngài bệnh nằm ở Dưỡng Chân Trang, giữa nhà trống ngài kê một bộ ván, nắm theo thế kiết tường tức nằm xuôi nghiêng bên tay phải nhắm ắt tịch. Khi đó thê thiếp, người hầu hai bên khóc rống lên, ngài ngồi dậy, gọi bảo lấy nước, rửa mặt súc miệng, rồi ngài quở "sống chết là lẽ thường niên, đâu nên buồn thảm luyến tiếc làm nhiễu động chân tánh ta". Ngài quở xong, nằm yên cuống rồi tịch.

Một cư sĩ mà tu vậy đó thì hay hay dở, tự tại không? Trước kia ông làm quan, đánh giặc hai lần, rồi sau từ quan mới về tu tại gia. Ông sống chung với gia đình vợ con, bận rộn mà vận tu hành tiến bộ không lui sụt, tới khi chết được tự do tự tại. Quý vị có còn viện lý do tôi bận rộn quá, tu không được không? Ai bận rộn bằng ông vua, ông quan, lẽ nào các vị tu được mà mình lại không thể.

Người xuất cách hiểu được nơi mình có cái thể chân thật, sống với nó, không bị ngoại trần lôi kéo, không bị lục tặc xúi giục, nên được tự tại, giải thoát. Dù ở trong hoàn cảnh nào, trường hợp nào, đều tự được, không có gì làm trở ngại. Cho nên quý vị thấy người tu là phải khéo. Một là tự nhận hiểu cho thấu đáo rồi ứng dụng tu thì dù ở cảnh nào tu cũng đến nơi. Hai là phải lập chí bền vững, dù cho khó khăn, bận rộn mình cũng không quên cái gốc tu hành của mình, thì bận rộn khó khăn gì mình cũng có thể tu được. 

Để kết thúc bài giảng này, tôi đọc lại bài khuyên của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đối với hàng Phật tử tại gia còn ở ngoài đời tiến bước vào đạo. Tôi đọc cho quý vị nghe rồi sẽ hiểu thấm thía lời khuyên răn, khuyến khích của ngài.

Bài kệ tên Khuyến Thế Tiến Đạo
Tứ tự tuần hoàn xuân phục thu,
Xâm xâm dĩ lão thiếu niên đầu,
Vinh hoa khẳng cố nhất trường mộng,
Tuế nguyệt không hoài vạn hộc sầu.
Khổ thú luân hồi như chuyển cốc,
Ái hà xuất một đẳng phù âu,
Phùng trường diệc bất mô lai tỷ,
Vô hạn lương duyên chỉ ma hưu.

Dịch: Khuyên Đời Vào Đạo
Thời tiết xoay vần cuân đến thu,
Cái già xồng xộc đã lên đầu,
Giàu sang ngó lại trơ tràng mộng,
Năm tháng mang theo chất hộc sầu.
Nẻo khổ vành xe lăn lóc cóc,
Sông yêu bọt nước mất còn đâu,
Trường đời ví chẳng rờ lên mũi,
Ngàn thuở nhân duyên chỉ bóng màu.

Ngài khuyên mọi người ở ngoài đời nên tiến vào trong đạo để tu hành. Hai câu đầu ngài nói thời tiết xoay vần xuân đến thu, chỉ cho ở thế gian mộ năm có bốn mùa xuân hạ thu đông, luôn luôn luân chuyển không dừng. Nó luân chuyển mãi nên nói thời tiến xoay vần xuân đến thu. Mà khi thời tiết ở ngoài đổi thay, xoay vần thì con người còn nguyên vẹn, tươi trẻ mãi không?

Cái già xồng xộc đã lên đầu, cái già nó chạy gấp, nó táp lên đầu mình. Nghĩa là mới thay đổi ít chục lần, nhìn lại đầu mình bạc trắng. Đầu tôi, đầu mấy ông cụ đây cũng vậy đó, cái già nó táp lên đầu rồi. Hồi trước đầu mình xanh bây giờ thành bạc hết, nhưng không phải thời gian chỉ trôi qua suông. CHính thời gian đã cướp đi, cuốn đi thời niên thiếu trẻ trung tươi đẹp, là cho người trẻ rồi phải già. Thời gian trôi đi, con người cũng theo đó mà héo mòn, già nua.

Vậy hai cầu này nói lê cảnh vô thường của thời gian và của con người nhịp nhàng theo nhau. Đến hai câu kế:

Giàu sang ngó lại trơ tràng mộng,
Năm tháng mang theo chất hộc sầu.

Tôi thấy hai câu này hay tuyệt, Giàu sang ngó lại trơ tràng mộng, những cảnh giàu sang phú quý lâu lâu nhớ lại nó còn nguyên không? Hay là như giấc mộng. Có những cảnh giàu sang trước kia giờ nhìn lại thì mất tiêu, kiếm không ra. Hồi nào nhà lầu xe hơi, bây giờ thấy họ lang thang, cực khổ. Những gì có trước kia theo thời gian nó cũng hoại mất, cũng như giấc mộng. Thời gian qua đi, của cải sự nghiệp đều tan biến, nhưng có một cái không mất, đó là cái gì?

Năm tháng mang theo chất hộc sầu, năm tháng cứ qua đi mà cái sầu còn chứa lại, khổ vậy đó! Năm vừa qua có ai chọc giận, cuối năm quý vị bỏ hay còn giữa? Nếu năm rồi mười người chọc tức, thì gom tới cuối năm được mười cái giận, chứa để đó. Năm nay xui khiến chừng mười lăm người chọc giận nữa, cũng chứa lại. Rồi năm tới chứa vài chục cái giận nữa, chứa rồi lại chứa. Một năm mười, mười lăm cái, là tôi nói ít, chứ một tháng cũng đủ chừng đó rồi, phải không? cứ vậy cộng tới chứng năm sáu chục năm thì cái giận tức đó chừng bao nhiêu? Vạn hộc sầu! Tức là cái sầu đong được một vận hộc, bây giờ nói một vạn thùng sầu đi.

Như vậy để thấy rõ chúng ta có cái mâu thuẫn: thời gian trôi qua rồi mất những cái buồn thương giận ghét không chịu mất. Không chịu mất hoài thì chứa hoài. Chứa hoài thì càng ngày nó càng tràn dầy thêm, mà càng tràn đầy lúc nhắm mắt thì sao? Chính đó là một khối nặng lôi mình đi xuống. Vậy nên thời gian qua mất, thì thôi buồn thương giận ghét cũngbỏ luôn, tiêu hóa luôn cho nhẹ nhàng.

Còn đằng này không chiọu tiêu hóa mà cứ chứa, chứa được bao nhiêu rồi, mấy chục vạn rồi? Trên đường tu chúng ta khéo một chút, mọi việc qua rồi mất, buồn thương giận ghét cũng cho mất theo thì chúng ta sẽ nhẹ nhàng. Còn nếu chứa những cái đó đầy bụng thì sẽ nặng nề, rối nó sẽ lôi chúng ta theo.

Hai câu sau này sẽ nói nó lôi đi đâu. Nẻo khổ vành xe lăn lóc cóc, bởi vì cái sầu thương giận ghét là phiền não. Phiền não mà chứa nhiều quá thì nó dẫn mình đi trong nẻo khổ, giốn gnhư vành xe lăn tròn, lăn đi hoài không có ngày cùng. Đó là đi trong luân hồi, mà luân hồi trong đường khổ chứ không phải đường vui. Vậy quý vị có ham chứa không hay muốn tiêu hóa nó? Ráng tiêu hóa đi để nó khỏi lôi dẫn mình đi trong luân hồi khổ.

Rồi sóng yêu bọt nước mất còn đâu, ở trong ái hà tức sông yêu, nó lôi dẫn mình chợt còn chợt mất, giốn gnhư hòn bọt trên mặt nước vậy. Sóng bủa thì hòn bọt nổi lên, gió thổi thì hòn bọt tan đi, rồi sóng bủa thì nổi bọt..., cứ vậy, nổi...tan, nổi...tan. Mình cũng vậy, vì cái tâm ái dẫn mình chìm đắm trong luân hồi, chợt sinh rồi tử, tử rồi sinh, giống như bọt nổi chìm, nổi chìm không cùng.

trường đời ví chẳng rờ lên mũi, cái câu này nghe khó hiểu quá. Nghĩa là ở ngay trong cuộc đời này nếu mình không rờ được mũi thì ngàn thuở nhân duyên chỉ bóng màu, duyên lành muôn thuở chỉ như là bóng là màu, không có gì được, không có gì thật.

Chữ rờ lên mũi này nhiều người không biết. Lỗ mũi trên mặt, mình thấy nó dễ không? Lỗ mũi ở trước mặt mà ít ai thấy nó, không thấy nên quên. Lỗ mũi để thí dụ cái chân thật là sáu đường thần quang mà phần trước tôi đã nói. Nó hằng ở mắt tai mũi lưỡi... mà mình quên không nhớ, nên quên mình theo vật. Cũng giống như cái lỗ mũi trước mặt mà không thấy, mình quên, bây giờ nhớ lại, rờ lên. Nhờ rờ lỗ mũi tức là nhớ lại sáu đường thần quang luôn hiên hữu. Nhớ được cái đó rồi thì cuộc đời mình sốn gkhông uổng. Nếu quên nó luôn thì dù cho có duyên lành gặp thầy, gặp bạn, gặp kinh điển Phật, mà rồi cũng chỉ trôi qua suông, không lợi ích gì.

Bởi vậy, ý ngài muốn nhắc chúng ta có duyên lành gặp được điều tốt điều hay trong đạo thì ngay đó phải thức tỉnh nhận ra cái thật, vậy mới không uổng công phu. Còn không khéo nhận ra, cứ thả trôi, thì đáng tiếc cho một đời luống qua vô ích như những đám lục bình, đám bèo ngoài sông cứ trôi rề rề ra biển rồi biến mất, không có giá trị gì.

Vì vậy chúng ta pghải thức tỉnh, phải thấy rõ cái gì hư cái gì thật, để trở lại với chính mình, đó là điều ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ khuyên. Vậy quý vị có tỉnh không? Cuộc đời tạm bợ vô thường nhưng còn cái chân thật hiện hữu nơi mình. Nếu nhận được cái đó thì cuộc đời không vô ích, còn không nhận được cái đó, cứ thả  trôi, thì lãng phí một đời.

Vậy mong tất cả quý vị đều cố gắng thức tỉnh, rờ cho được cái lỗ mũi. Lỡ mê bao nhiêu năm rồi thì bây giờ ngang đây phải tỉnh lại chứ đừng để mê mãi, uổng một cuộc đời, rồi lại tiếp một đời nữa cũng sẽ trôi qua như vậy./.

Quay về đầu trang
HT.Thích Thanh Từ


Hạnh phúc và khổ đau
Khi chúng ta không làm chủ được mình thì sẽ bị vui buồn chi phối. Nhưng khi quán xét thấy rõ...
Tịnh độ trong trái tim ta
Pháp tu này giúp duy trì sự tỉnh thức trong ta, giúp ta an trú hạnh phúc, sống an lạc trong từng...
Lục hòa
"Trọng tâm của người tu, dù không giỏi nhưng khéo sống đúng với tinh thần lục hòa của đạo Phật...
Học theo hạnh của đất
Cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Đời người có lúc gặp thuận duyên nhưng cũng có lắm khi gặp nghịch cảnh.
Tăng trưởng Đạo nghiệp
Khai thị của Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh: Kỳ thật, lấy mắt đạo mà nhìn vào thì đó là...
Đừng dính đến quyền lợi
Không phải hàng xuất gia không bị dính mắc vào quyền lợi. Huống nữa, chính quyền lợi đó sẽ đem...
Chữ 'Tu' mới bằng ba chữ Tài
Chữ "Tu" nghĩa là sửa, nhưng không phải sửa người khác mà là sửa chính mình. Con người có một...
Pháp tu Quan Âm
Pháp tu Quan Âm chủ yếu nói về hạnh Quan Âm và chúng ta áp dụng pháp tu của Ngài trong cuộc sống...